Tin tức thiết kế, thi công, phong thủy biệt thự cổ điển

ACI HOME - Chuyên thiết kế biệt thự,thiết kế biệt thự Pháp,thiết kê nhà hàng,thiết kế khách sạn với kiến trúc đẹp mà độc đáo

Đánh giá của khách hàng với nhà hàng Flaza Quận 2 Bà Trưng

F-Plaza Nhà Hàng Karaoke Buffer Là một nhà hàn quán ăn chuyên tổ chức các sự kiện to nhỏ trên khu vực Hà Nội, nhà hàng cũng phục vụ gần như đầy đủ các món có mặt trên thị trường, phục  các dịch vụ như quán bar, không gian hát karaoke .... Thời gian vừa qua không biết do sơ xuất hay không tập trung mà nhà hàng bị đánh giá xấu do khách hàng đến đây trải nghiệm. Dưới đây chúng tôi xin trích nguyên văn bài đánh giá của khách hàng có tên là Cow Pig. 

 

Hôm nay, mình đi ăn với bộ môn dịp tất niên nên có cơ hội được trải nghiệm tại nhà hàng F-Plaza. Đây là nhà hàng trên phố lớn, mặt tiền rộng rãi, không gian khá sang trọng và sáng sủa. Tuy nhiên cảm nhận chung của mình về nhà hàng lần này đó là: KHÔNG HÀI LÒNG VỚI CÁCH THỨC PHỤC VỤ! Xin được đi vào ý chính luôn:

Thứ nhất về thời gian

Hẹn ăn lúc 11 rưỡi sáng, mình đến tiền trạm lúc 11h kém. Lúc lên phòng ở tầng 4: vẫn còn đang bật quạt hong khô sàn nhà, phòng vệ sinh vẫn còn đang lau dọn ẩm ướt. Với một nhà hàng mà cảm quan đầu tiên bên ngoài là sang trọng, nhưng đến khi bước chân vào thấy sàn nhà ướt và dính vết chân là mình rất khó chịu (trừ khi trời mưa thì đành chịu, trong khi hôm nay trời rất khô ráo, mình không lội bùn rồi mới đến nhà hàng).

Thứ 2: Về vệ sinh

Đặt 6 bàn thì 1 bàn khăn rải dính vết bẩn (chắc do nước gia vị đổ ra). Mình đã nhắc em phục vụ nhưng xem ra có vẻ không được đáp ứng mà phải đến khi chị lớn hơn mình lên tiếng thì em ý mới có động thái rõ ràng ra thay khăn. Không hiểu ý đồ nhân viên là như thế nào?

 

Thứ 3: Về Đồ ăn

Đồ ăn mang ra chậm. Thực đơn gồm 11 món, em nhân viên đã nói là chuẩn bị hết rồi, khách đến là có thể mang ra ngay để dùng, tuy nhiên xem ra món cuối cùng: Cá om chuối đậu, làm hơi bị lâu quá nên các mâm cũng chuẩn bị đứng dậy rồi thì mới xuất hiện.

Thứ 4: Về thái độ phụ vụ


4, Mâm khác không biết nhưng riêng mâm mình được ăn như kiểu ngồi trên đống rác. Nồi cá om chuối đặt vào giữa bàn. Ok. Nhưng, đến đĩa bún, thay vì kê các đĩa ăn khác sang lấy chỗ để bún, đằng này nhân viên lại đặt ngay đĩa bún đó đè lên mẹt cá nướng. Mình không quan tâm mẹt đó còn hay không còn đồ ăn, nhưng đặt lên như vậy mà trong khi khách ngồi chưa đồng ý là không ok một chút nào!

Thư 5: Sự nhiệt tình

 

Đồ uống mang ra cũng chậm. 6 mâm 6 người, mà nâng cốc nước lọc được 2 lần rồi mới thấy nhân viên đẩy rượu vang vào. Đẩy, mở, rót đều chậm phải để cử mấy em bên mình vào hỗ trợ.

Ngoài ra chất lượng món ăn thì không có gì là đặc sắc nếu không muốn nói là ít.

 

Thiết kế trang trí căn hộ chung cư mát mẻ

Một căn hộ chung cư hộ gia đình nhỏ ở với chung cư mini đôi khi hơi bất tiện bởi không gian. Một căn hộ chung cư mini sẽ không có không gian cho con chơi, không có không gian cho bạn làm việc riêng và 3 thành viên phải ngủ nghỉ chung 1 giường. Vậy làm thế nào để bạn có thể biết được không gian căn hộ nhà bạn trở lên rộng rãi hơn? Hãy theo dõi bài viết đưới đây của chúng tôi 

 

f:id:thietkebietthu:20191204193412j:plain



 

 

Không gian hiện đại

Tổng thể không gian của căn hộ được trang trí, thiết kế theo phong cách hiện đại, mang đến cảm giác thoáng đãng trong sinh hoạt. Đặc biệt, gia chủ đã lựa chọn tone màu xanh dương chủ đạo cùng gam màu vàng tươi sáng làm điểm nhấn khiến cho căn chung cư trở nên trẻ trung, tươi mới hơn.

trang trí căn hộ chung cư
Không gian phòng khách thoáng đãng.

Ở đây, KTS đã bố trí không gian theo lối kiến trúc mở, nhằm tận dụng tốt diện tích sử dụng. Để phân chia các khu vực theo từng chức năng riêng, phần sàn được nâng lên, tách biệt với khu vực phòng khách, tường bếp ốp gạch hoa và hệ tủ bếp bắt mắt được kết hợp tông màu trắng sáng.

 

>> Xem thêm : Những mẫu vườn biệt thự đẹp

http://thietkebietthu.hatenablog.com/entry/Nhung-vi-tri-dat-hon-non-bo-dep

 

trang trí căn hộ chung cư

 


Khu vực nấu nướng được thiết kế gọn gàng.

Phía trước phòng khách là phần logia có trang trí cây xanh và cửa kính lớn, giúp cho căn hộ luôn được đón nhận ánh sáng tự nhiên và không khí trong lành một cách đầy đủ nhất.

 

trang trí căn hộ chung cư



Các khu vực sinh hoạt được phân chia hợp lý.

Khu vực tiếp khách được trang trí và thiết kế nhỏ gọn, ấm cúng. Tone màu vàng tươi sáng của bộ sofa kết hợp tường trắng và màu xanh dương chủ đạo khiến cho không gian thật trẻ trung và tươi mới.

 

trang trí căn hộ chung cư

 


Tone màu vàng nổi bật trên nền tường trắng.

Khu vực nấu nướng, ăn uống được bố trí gọn gàng, thích hợp cho sinh hoạt của gia đình 3 người, kệ treo tường, tủ bếp được thiết kế kịch trần vừa đảm bảo không gian lưu trữ cho gia chủ, vừa tạo cảm giác thoáng đãng tiện nghi.

 

Sự tiện nghi và thoải mái

Khu vực phòng ngủ của cả nhà cũng được trang trí xuyên suốt phong cách hiện đại, đi cùng với tone màu xanh dương mát mẻ. Phòng ngủ chính của hai vợ chồng gia chủ đầy sắc xanh biển được phối chút dải vàng từ bàn và kệ trang điểm.

f:id:thietkebietthu:20191204193602p:plain



Phòng ngủ chính của bố mẹ được thiết kế khá bắt mắt với tone màu xanh chủ đạo.

Tại đây, KTS cũng đã sử dụng cửa sổ kính lớn, nhằm điều chỉnh lượng ánh sáng tự nhiên phù hợp cho căn phòng. Các chi tiết trang trí như rèm cửa, ghế đọc sách, tranh treo tường… được lựa chọn kỹ lưỡng tạo nên sự hài hòa trong tổng thể căn phòng.

Nhiều người cho rằng, căn hộ chung cư thường bí bách và không tối ưu trong việc chiếu sáng. Tuy nhiên, với thiết kế này, bạn sẽ có một góc nhìn khác. Hầu hết các khu vực sinh hoạt trong căn hộ đều được bổ sung ánh sáng tự nhiên một cách hợp lý nhất. Phòng ngủ của trẻ được trang trí sống động, ngộ nghĩnh hơn và sử dụng nhiều đồ nội thật đơn giản tạo nên không gian vui nhộn.

 

trang trí căn hộ chung cư

f:id:thietkebietthu:20191204193709p:plain

 


Phòng của trẻ được thiết kế theo sở thích và các yếu tố giúp trẻ phát triển hoàn thiện.

Cách thiết kế này giúp cho bé có nhiều điều kiện phát triển các giác quan, tạo sự hứng thú trong việc tìm hiểu thế giới quan xung quanh, phù hợp với đúng lứa tuổi.

Nếu bạn đang có nhu cầu về một ngôi nhà đẹp và cần hoàn thiện nhà xây thô, hoàn thiện chung cư và muốn tham khảo các mẫu nhà đẹp 2019 hãy gọi ngay cho chúng tôi để được hỗ trợ tư vấn và báo giá chính xác nhất.

Cấu trúc không gian đô thị cao tầng tại tp Đà Nẵng

1.Đặt vấn đề.

Đà Nẵng, một đô thị có vị trí đẹp bên bờ sông Hàn và bên bờ biển Đông. Thiên nhiên đã ưu đãi cho Đà Nẵng nhiều lợi thế về cảnh quan đẹp, nổi tiếng: từ “cổng trời” Hải Vân – “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”, Non Nước – Ngũ Hành Sơn đến bán đảo Sơn Trà tráng lệ. Nếu đứng từ “cổng trời” Hải Vân, nhìn xuôi về phía Nam nơi con sông Hàn chảy qua, đổ vào vùng cửa vịnh Đà Nẵng (với khoảng 30 km bờ biển có nhiều bãi biển đẹp) mới cảm nhận hết vẻ quyến rũ mà thiên nhiên ban tặng cho thành phố này… Hơn nữa, Đà Nẵng lại nằm giữa vùng kề cận ba di sản văn hóa thế giới: Cố đô Huế, đô thị cổ Hội An và Thánh địa Mĩ Sơn. Đây là những lợi thế hiếm có của một đô thị biển.

Trong phạm vi khu vực và quốc tế, Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan trọng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông – Tây với điểm kết thúc là cụm cảng Tiên Sa – Liên Chiểu. Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và hàng không quốc tế, Đà Nẵng có một vị trí đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững.

Trong thời gian qua, Đà Nẵng đã phát triển mạnh và tương đối thành công. Với ý tưởng lấy vịnh Đà Nẵng và sông Hàn làm bố cục chủ đạo trong tổ chức không gian, đô thị Đà Nẵng được mở rộng không gian về phía Tây, Tây Bắc, Tây Nam, Nam và Đông Nam. Trước mắt ưu tiên phát triển theo hướng Tây Bắc, khu vực giữa quốc lộ 1A và đường Liên Chiểu – Thuận Phước (đường Nguyễn Tất Thành). Đồng thời mở rộng đô thị trên cơ sở xây dựng các đô thị vệ tinh, các thị trấn, thị tứ và phát triển kết cấu hạ tầng diện rộng để từng bước hình thành chùm đô thị vệ tinh Đà Nẵng… Phát triển các khu du lịch Nam Ô, Xuân Thiều, Mĩ Khê, Bắc Mĩ An (Purama), Non Nước…

Tuy nhiên, trong thực tế, còn có ý kiến nghi ngờ về sự phát triển bền vững của đô thị này. Bởi Đà Nẵng dường như đang phát triển quá mạnh, quá “bạo”, đang làm mất đi hoặc biến dạng hệ sinh thái nội và ngoại vùng. Hệ thống khung thiên nhiên không được bảo toàn một cách tốt nhất, các yếu tố cây xanh, mặt nước (biển, sông, hồ) chưa được khai thác có hiệu quả. Cấu trúc đô thị chưa hẳn đảm bảo để phát triển bền vững…Liệu Đà Nẵng có mắc phải những tồn tại giống như các đô thị khác (Nha Trang, Vũng Tàu) khi mở những tuyến đường đô thị quá lớn, tạo nên sự ngăn cách giữa biển và không gian đô thị? Diện mạo kiến trúc Đà Nẵng, kiến trúc đôi bờ sông Hàn ở đâu, nhất là kiến trúc trên tuyến đường mới mở ven biển ở phía Đông, có nét nào riêng, ấn tượng cho Đà Nẵng? Có phải biểu tượng là kiến trúc công trình Tòa nhà Hành chính tập trung?… Các dự án qui hoạch đô thị, du lịch (nhất là du lịch) có bị án ngữ mặt tiền của biển, ngăn cách làm ảnh hưởng đến cấu trúc tổng thể chung, cản trở việc tiếp cận của cộng đồng dân cư với biển, hoặc việc các công trình cao ốc, khách sạn, nhà hàng cao hàng chục tầng, dày đặc đã, đang và sẽ mọc lên bên bờ biển, vô tình sẽ tạo bức tường chắn gió, che khuất tầm nhìn nhiều khu dân cư phía trong đô thị và gây mất mỹ quan cho mặt tiền của biển như các công trình kiến trúc cao tầng trên tuyến đường Trần Phú, TP. Nha Trang hiện nay ?…

2.Suy nghĩ về cấu trúc không gian đô thị Đà Nẵng.

– Quan điểm: Về lý thuyết, cấu trúc không gian đô thị hình thành trên cơ sở xác định đúng các động lực phát triển đô thị, nói cách khác là các yếu tố tạo thị. Đây là kết quả của tư duy chiến lược vùng với tầm nhìn vĩ mô. Tuy nhiên, trong tổ chức không gian đô thị cụ thể, nhận dạng đúng và phát huy được các giá trị cảnh quan tự nhiên và văn hóa địa phương, như một tài nguyên như là động lực phát triển của đô thị, góp phần định dạng hình thái không gian đô thị hiện đại và bản sắc (Bỏ qua những cấu trúc không gian đô thị được hình thành bằng ý chí của con người).

Đối với TP. Đà Nẵng, để đạt được mục tiêu, tầm nhìn đến năm 2045 theo Nghị quyết số 43-NQ/TW của Bộ Chính trị, Đà Nẵng sẽ trở thành đô thị lớn, sinh thái và thông minh, là trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và TP biển đáng sống đạt đẳng cấp khu vực châu Á. Quan điểm chính cần chú trọng là:

(i) Bảo tồn, coi trọng “Cấu trúc cảnh quan tự nhiên” – Trụ cột của phát triển môi trường bền vững. Trên cơ sở đó xây dựng Đà Nẵng thành Thành phố xanh thông minh.

(ii) Ưu tiên dành quĩ đất để phát triển các khu chức năng, các đầu mối hạ tầng kĩ thuật mang tính vùng, quốc gia, quốc tế; các khu chức năng đô thị đặc sắc, sinh động, hấp dẫn, các trung tâm tài chính, ngân hàng, dịch vụ thương mại, du lịch… (là các nhân tố tạo dựng đô thị trung tâm cấp vùng, đô thị biển) trong cấu trúc đô thị;

(iii) Xây dựng định hướng phát triển kiến trúc, cảnh quan trên cơ sở phân vùng qui hoạch gắn với đặc điểm điều kiện tự nhiên và chức năng sử dụng. Lồng ghép các nội dung này vào Qui chế quản lí qui hoạch – kiến trúc chung toàn đô thị;

(iv) Xác định khả năng dung nạp/ngưỡng phát triển tối ­ưu, phù hợp với tầm nhìn của đô thị Đà Nẵng với qui mô dân số 2,5 triệu người vào năm 2030; Mở rộng, khai thác hiệu quả quĩ đất; dự trữ nguồn tài nguyên đất đai dành để phát triển trong tư­ơng lai;

(v) Tăng cường hệ thống, phương tiện giao thông công cộng đô thị theo hướng xanh, thông minh, thân thiện với môi trường; các kết nối nhanh, thuận tiện, an toàn (đường bộ, đường thủy, đường hàng không) gắn kết Đà Nẵng với vùng phụ cận, khu vực và quốc tế…

– Đặc điểm cảnh quan tự nhiên: TP Đà Nẵng có đặc điểm cấu trúc địa hình đa dạng, phong phú, có đồi núi, đồng bằng; có hệ thống mặt nước biển, sông, hồ, cảnh quan thiên nhiên; có hệ sinh thái ven biển gắn với gía trị đặc sắc từng vùng văn hóa Quảng Nam – Đà Nẵng xưa. Đây là hệ khung thiên nhiên cơ bản có giá tr, không những góp phần làm tăng chất lượng môi trường sống mà còn tạo nên bản sắc riêng cũng như sự hấp dẫn và tính cạnh tranh cao trong đô thị. Hệ khung thiên nhiên cơ bản này sẽ là nền tảng để duy trì, phát triển “Hệ thống cấu trúc xanh” (gồm đặc điểm địa hình, cây xanh và mặt nước) trong cấu trúc tổng thể của TP Đà Nẵng.

Đặc điểm các thành phần cảnh quan tự nhiên có thể nhận biết thông qua yếu tố địa hình và các tài nguyên tự nhiên mà Đà Nẵng sở hữu. Đó là: (i) khu vực đồng bằng ven các con sông; (ii) khu vực ven biển (Đông, phía Đông Nam); (iii) khu vực đồi núi (phía Tây). 


– Đối với khu vực đồng bằng ven các sông, đặc biệt là ven sông Hàn, do nằm ở cửa sông (đổ ra vịnh Đà Nẵng) có nhiều thuận lợi về đất đai, cốt nền xây dựng, lại gắn kết thuận lợi về đường bộ, hàng không, đường thủy trong nước và quốc tế… Đây là vùng đất nền móng để lựa chọn xây dựng TP Đà Nẵng từ thuở ban đầu. Đây chính là khu vực đô thị lõi lịch sử của TP. Đà Nẵng hiện nay.

Riêng đối với khu vực đồng bằng ven các con sông Cẩm Lệ, Đô Tòa (phía Nam thành phố), thực tế là vùng sinh thái lưu vực các con sông này, mới được đưa vào cấu trúc đô thị của thành phố trong những lần qui hoạch gần đây… Do là vùng đất mới lại chưa có điều kiện để phát triển, lấp đầy theo qui hoạch, nên có điều kiện để xem xét nghiên cứu điều chỉnh về mô hình, cấu trúc, các chỉ tiêu phát triển trong qui hoạch thành phố lần này.

– Đối với khu vực ven biển (Đông, phía Đông Nam/quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn): Là vùng đất gắn với cảnh quan sinh thái biển. Là khu vực với chức năng thương mại, du lịch, vui chơi giải trí nằm trong cấu trúc đô thị Đà Nẵng đã được phê duyệt… Tuy nhiên, để khai thác tốt yếu tố cảnh quan biển tương xứng với vai trò, vị thế của một đô thị biển tần cỡ châu Á, có thương hiệu, Đà Nẵng có cơ hội để rà soát, xem xét lại một số khu vực ven biển để có giải pháp tái cấu trúc lại hợp lí, hiệu quả hơn.

– Khu vực đồi núi (phía Tây): Là vùng đất có địa hình cao ráo, cảnh quan tự nhiên đa dạng (cây xanh, sông, suối), lại chưa được nghiên cứu khai thác nhiều. Trong điều chỉnh qui hoạch lần này, đây là vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển các khu đô thị mới, trung tâm mới (có tính chất vệ tinh, tương đối độc lập), mở rộng không gian thành phố về phía Tây, giảm sức ép vào khu vực trung tâm thành phố (đang có nguy cơ quá tải).

Việc duy trì, bảo vệ tối đa, khai thác có hiệu quả các đặc điểm vùng cảnh quan, mặt nư­ớc các con sông, mặt nước ven biển/nhất là diện tích mặt nước ven biển; vùng sinh thái nông, lâm nghiệp phía Bắc, Tây thành phố/là yếu tố tạo dựng bản sắc riêng cho đô thị/tạo dựng hình ảnh đô thị biển đặc sắc có giá trị.

– Cấu trúc không gian đô thị: Lấy yếu tố cảnh quan tự nhiên (mặt nước – biển, sông, đầm, hồ, núi và đồng bằng) làm trụ cột chính để lựa chọn cấu trúc không gian và tổ chức không gian đô thị phù hợp với Đà Nẵng. Và như vậy, hướng nước như là một trong những nguyên tắc lựa chọn cấu trúc không gian và tổ chức không gian đô thị Đà Nẵng. Nguyên tắc này chi phối việc lựa chọn, trước hết: Quy mô và hình thức các đơn vị đô thị khác nhau tùy thuộc vào vị trí cụ thể. 

“Hệ thống cấu trúc khung thiên nhiên” và “cấu trúc xanh” TP. Đà Nẵng 


Theo đó, cấu trúc không gian đô thị tổng thể gồm khu vực đô thị lõi lịch sử; trục cảnh quan sông Hàn – trục hành chính, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, lịch sử, đào tạo, TDTT; Các khu trung tâm dịch vụ, tài chính, du lịch, nghỉ ngơi giải trí chất lượng cao, đẳng cấp quốc tế tại quận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, một phần vòng cung vịnh Đà Nẵng, khu vực đèo Hải Vân, Sơn Trà, Bà Nà… (Trong đó nhấn mạnh các trục không gian ven biển phía Đông, vịnh Đà Nẵng, khu vực đèo Hải Vân; trục không gian hai bờ sông Hàn, Cẩm Lệ, Đô Tòa…); Tạo dựng các trục cảnh quan theo lưu vực các con sông Cu Đê, Cổ Cò…; Hoàn thiện, mở rộng qui mô, tăng cường chất lượng hoặc xây dựng mới để nâng cao hiệu quả các khu có chức năng là đầu mối vùng (như công nghiệp, TTCN, cảng hàng không, cảng biển quốc tế, logistic…). Với cấu trúc này cần xác định khả năng dung nạp/ngưỡng phát triển tối ưu, phù hợp với tầm nhìn của thành phố Đà Nẵng. 

Cấu trúc không gian tổng thể thành phố Đà Nẵng 


3.Suy nghĩ về phát triển kiến trúc cao tầng tại TP Đà Nẵng

– Điều chỉnh qui hoạch khu vực phía Đông thành phố: Ở giai đoạn trước mắt, Đà Nẵng cần rà soát các dự án phát triền đô thị, du lịch (Nhất là các dự án du lịch)…chậm triển khai làm cơ sở tái cấu trúc lại qui hoạch vùng phía Đông ven biển, trên nguyên tắc tạo ra được các tuyến không gian mở/không gian xanh hướng biển (để dẫn được nhiều luồng sinh khí và năng lượng cho đô thị), phá bỏ sự ngăn cách giữa cảnh quan, môi trường biển với không gian đô thị phía trong, đảm bảo khả năng tiếp cận cho mọi đối tượng, thích ứng với BĐKH, NBD. Kiên quyết không sử dụng giải pháp lấn biển để phát triển du lịch, đô thị… Cụ thể:

+ Mở tuyến đi bộ (mặt cắt không cần lớn) – đây là tuyến cảnh quan ven biển song song với tuyến đường Võ Nguyên Giáp – Trường Sa. Tuyến này được bắt đầu từ bãi tắm T20, suôi về phía Nam giáp với địa phận Điện Nam – Điện Ngọc (Quảng Nam) để kết nối với Hội An sau này.

+ Mở các tuyến không gian xanh/lối xanh kết nối đô thị với biển tại các vị trí:

(i) Tuyến AH17 (vuông góc với đường Trường Sa) kéo dài hướng ra biển;

(ii) Tuyến Minh Mạng (vuông góc với đường Trường Sa) kéo dài hướng ra biển;

(iii) Khu vực Ngũ Hành Sơn;

(iv) Bãi Non Nước;

(v) BRG Đà Nẵng Golf Resort…

Giải pháp này thông qua “Hệ thống cấu trúc khung thiên nhiên” trong cấu trúc tổng thể đô thị sẽ tạo ra vành đai xanh ven biển kết hợp với lối xanh (tuyến đi bộ – cảnh quan) và các không gian xanh/không gian mở ven biển. 

Sơ đồ minh họa ý tưởng tái cấu trúc qui hoạch khu vực phía Đông TP. Đà Nẵng 


+ Giảm mật độ xây dựng tại các dự án phát triển du lịch, tăng độ thông thoáng để có cơ hội tiếp cận cảnh quan biển bằng thị giác thông qua các ranh giới xanh/tường rào xanh của các khu du lịch và tiếp cận trực tiếp thông quan các tuyến không gian xanh/lối xanh kết nối giữa đô thị và biển.

+ Chính quyền đô thị, các chủ đầu tư và người dân cần có sự trao đổi và đông thuận về việc tái cấu trúc lại qui hoạch vùng phía Đông ven biển, trên cơ sở lợi ích chung bền vững vì một tương lai của một đô thị biển đáng sống, đẳng cấp châu Á. 

Hình ảnh minh họa cho tuyến đi bộ – tuyến cảnh quan ven biển song song với tuyến đường Võ Nguyên Giáp – Trường Sa. 


– Phát triển xây dựng kiến trúc cao tầng trong đô thị. Không gian kiến trúc cảnh quan đô thị biển chịu nhiều tác động lớn khi xây dựng các công trình cao tầng ven biển. Bởi việc xây dựng này sẽ nhanh chóng mang đến một diện mạo kiến trúc cảnh quan mới, được coi là hiện đại mà trước đây đô thị không có được (Tuyến đường Trần Phú của TP Nha Trang là một ví dụ). Trong điều chỉnh QHC TP. Đà Nẵng lần này có thể xem xét điều chỉnh một số chỉ tiêu phát triển đô thị như mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất, tầng cao… Và có thể áp dụng mô hình “đô thị nén/mật độ cao” hoặc khả năng điều chỉnh cao tầng theo mô hình TOD ở một số vị trí được lựa chọn cụ thể, trong đó có khu vực trung tâm, đầu mối giao thông quan trọng và khu vực ven biển (Phía Tây các tuyến đường Hoàng Sa, Võ Nguyên Giáp và Trường Sa) trong cấu trúc tổng thể toàn đô thị. Tuy nhiên, phải trên quan điểm bảo vệ, khai thác tốt yếu tố cảnh quan, bản sắc và giá trị di sản đặc thù của đô thị, đảm bảo các yêu cầu về an toàn bay của sân bay quốc tế Đà Nẵng (khu vực hành lang kĩ thuật “tĩnh không đầu và không sườn” của sân bay).

Xem xét, hoàn chỉnh đồ án thiết kế đô thị – Quy định quản lý kiến trúc xây dựng Khu vực ven biển nằm trên trục đường Hoàng Sa – Trường Sa – Võ Nguyên Giáp (đoạn từ đường Trần Nguyên Hãn đến đường quy hoạch 10,5m giáp ranh tỉnh Quảng Nam) là khu vực nằm tại vị trí ven biển thành phố Đà Nẵng (Do Viện Qui hoạch xây dựng Đà Nẵng NC), khu vực có tính chất đặc biệt quan trọng cũng là tâm điểm phát triển nóng về các công trình cơ sở hạ tầng của thành phố, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đồ án được thiết lập trên cơ sở thực trạng, ý tưởng qui hoạch (Có lồng ghép nội dung Điều chỉnh qui hoạch khu vực phía Đông thành phố như đã trình bày ở trên) và chấp thuận một số dự án đã có chủ trương, đồ án quy hoạch chi tiết, các quy định về thiết kế đô thị, phương án kiến trúc, chỉ tiêu kiến trúc đã được phê duyệt và ban hành, làm công cụ để quản lí qui hoạch, xây dựng. Tại khu vực này, phần lớn đất thương mại đã được đầu tư xây dựng, đất ở bao gồm các nhóm công trình thuộc khu vực chỉnh trang, khu vực theo quy hoạch cũ và khu vực nằm trên các trục đường, chủ yếu là các công trình thuộc nhóm công trình chuyển đổi kinh doanh dịch vụ thương mại, loại hình kinh doanh nghỉ dưỡng, khách sạn, kinh doanh sân golf, cho thuê văn phòng, ăn uống, mua bán hàng hóa… Các công trình trong khu vực có tầng cao trung bình được phân chia theo nhóm:

+ Các công trình khu vực kiệt hẻm, khu vực chỉnh trang có tầng cao: 3- 4 tầng;

+ Các công trình trên các trục đường có tầng cao: 7- 9 tầng;

+ Các công trình trên các trục đường có tầng cao: 10- 19 tầng;

+ Các công trình trên các trục đường có tầng cao: trên 20 tầng;

+ Các công trình trên các trục đường có tầng cao: theo quy hoạch;

Trên trục đường Hoàng Sa – Võ Nguyên Giáp – Trường Sa – Lạc Long Quân có công trình DaNang Time Square cao 50 tầng và Tổ hợp Soleil Ánh Dương cao 57 tầng…giữ vai trò là điểm nhấn đô thị…

Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý việc xây dựng nhà cao tầng ven biển có thể vô tình sẽ tạo bức tường chắn gió, che khuất tầm nhìn nhiều khu dân cư phía trong đô thị và gây mất mỹ quan cho mặt tiền của biển như bài học của TP. Nha Trang đã cảnh tỉnh…



Công trình cao tầng ven biển có thể vô tình sẽ tạo bức tường chắn gió, che khuất tầm nhìn nhiều khu dân cư phía trong đô thị và gây mất mỹ quan cho mặt tiền của biển. 

5.Thay cho lời kết.

Hiểu rõ và nhận thức đúng vai trò, vị thế và tầm quan trọng của các đô thị biển, trên thế giới, nhất là các nước đang phát triển đã, đang và sẽ luôn chú trọng quan tâm khai thác hiệu quả những đặc điểm cấu trúc cảnh quan tự nhiên để phát triển đô thị có thương hiệu, bền vững. Về cơ bản, Đà Nẵng hội tụ đủ các yếu tố địa – kinh tế – chính trị quan trọng cho việc thực hiện ý tưởng phát triển cấu trúc một đô thị biển có đặc điểm riêng, với các yếu tố cảnh quan, các công trình kiến trúc, nhất là kiến trúc cao tầng hài hòa, thân thiện, hướng tới tầm nhìn trở thành đô thị lớn, sinh thái và thông minh, TP biển đáng sống đạt đẳng cấp khu vực châu Á vào năm 2045 theo Nghị quyết số 43-NQ/TW đã xác định.

Dự án Jackfruit Village Homestay

Với việc khai thác yếu tố “bản địa” và cách sử dụng vật liệu địa phương thân thiện với môi trường, công trình “Jackfruit Village” (Làng Mít) của nhóm KTS thuộc Văn phòng Kiến trúc 1+1>2 đã xuất sắc đạt giải Nhất hạng mục Kiến trúc sư trẻ SPEC GO GREEN INTERNATIONAL AWARDS 2018.

Thông tin dự án:
Tên dự án: Làng mít Tomodachi
Năm hoàn thành: 2019
Đơn vị thiết kế: Văn phòng Kiến trúc 1+1>2
Địa điểm: Làng Trầm Lăng, xã Đồng Đông,
thị xã Sơn Tây, Hà Nội, Việt Nam
Nhóm thiết kế: Đỗ Minh Đức; Lê Đình Hưng;
Đường Văn Mạnh; Phạm Hồng Ngọc; Phùng Ngọc Hà Ly
KTS chủ trì: Hoàng Thúc Hào
Tổng diện tích: 1,7 ha
 

Làng Mít Tomodachi được xây dựng với lõi trung tâm là không gian cộng đồng, được cấu thành từ nơi thờ tự của tổ tiên và cũng là nơi thư giãn thiền định. Các đơn vị ở phát triển xung quanh lõi trung tâm chính, nương theo hệ thống cây xanh, tận dụng được tối đa bóng mát cho các khu vực sân chung.
Hội đồng giám khảo của Giải thưởng Kiến trúc Xanh SPEC GO GREEN INTERNATIONAL AWARD 2018 đánh giá cao cách sử dụng vật liệu địa phương thân thiện với môi trường (gạch đất không nung, mái lá cọ…) của dự án. Toàn bộ thiết kế đều xoay quanh các gốc mít, gốc bưởi, tận dụng bóng mát cho sinh hoạt và tôn trọng bản sắc của người dân tại khu vực, đồng thời giúp giảm tối đa bức xạ nhiệt. Ngoài ra, hệ thống xử lý nước thải kỹ thuật được đặt cuối hướng gió, và các hộ gia đình đều có 5 khoang bể phốt sinh thái.

Không gian cộng đồng – nơi thờ tự và thiền định
 

Dựa trên địa hình, hệ sàn của công trình được nâng lên nhằm tránh các loài gây hại như mối mọt, giúp giảm độ ẩm cũng như cho phép việc thoát nước bề mặt tự nhiên. Không gian được bố trí theo cảnh quan và thảm thực vật, gắn liền với thiên nhiên.

Đặc biệt, Làng Mít Tomodachi còn có khu vực vườn riêng, hiện có nuôi cá lồng cùng với một trang trại chăn nuôi, cung cấp thực phẩm hữu cơ sạch cho công nhân và người sử dụng trong toàn bộ quá trình, từ xây dựng đến vận hành, hình thành một hệ sinh thái khép kín có thể tự cung cấp, tái tạo và duy trì trong một thời gian dài.

 

Có thể nói, công trình Làng Mít Tomodachi là một “Công trình Xanh” điển hình với lối tư duy vô cùng hiện đại mà vẫn giữ được những nét truyền thống bản địa vốn có. Tôn trọng thiên nhiên, văn hóa và con người chính là điều làm nên sự thành công của Làng Mít Tomodachi.

Hội thảo thiết kế Nara về "Tính chân xác" của kiến trúc Nhật

Trong Hội thảo Nara về Tính chân xác (thuộc khuôn khổ Công ước Di sản Quốc tế) được tổ chức tại Nara – Nhật Bản tháng 11/1994, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO, tổ chức CCROM và ICOMOS đã chính thức thông qua Văn kiện Nara về Tính chân xác (Nara Document on Authenticity, dưới đây gọi tắt là Văn kiện Nara), đây là một trong những đóng góp quan trọng của Nhật Bản vào hệ thống công ước quốc tế về bảo tồn Di sản Văn hóa.

Văn kiện Nara 1994 gồm có 13 mục nội dung và 02 phụ lục, trong đó sự mở rộng khái niệm Giá trị (Values) và Tính chân xác (Authenticity), đề cập từ mục 9 đến mục 13 trong văn kiện này được nhận thức theo tinh thần của Hiến chương Venice 1964 (đây là văn bản khung, và là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng đối với công tác bảo tồn, trùng tu di sản văn hóa trên toàn Thế giới). Theo đó, dễ dàng nhận thấy Văn kiện Nara đã thực hiện đồng thời ba hạng mục lý luận quan trọng dưới đây:

  • Một là, bổ sung khái niệm về Đa dạng Văn hóa và Đa dạng Di sản;
  • Hai là, làm rõ khái niệm Giá trị cấu thành Di sản;
  • Ba là, làm rõ khái niệm Tính chân xác của các nguồn thông tin cung cấp.

1. Đa dạng Văn hóa và Đa dạng Di sản

Về mặt biện chứng, đa dạng di sản là hệ quả tất yếu của đa dạng văn hóa, phù hợp với nguyên tắc cơ bản của UNESCO là: Di sản văn hóa của từng cộng đồng là di sản văn hóa của tất cả nhân loại [1]. Vì vậy, việc bảo vệ, tăng cường đa dạng văn hóa và di sản trong thế giới của chúng ta như một khía cạnh thiết yếu cho sự phát triển của loài người [2].

Theo đó, sự phát triển của xã hội loài người nói chung và của từng cộng đồng dân tộc nói riêng không thể không dựa trên sự kế thừa lịch sử và truyền thống của mỗi dân tộc. Đa dạng di sản sẽ làm phong phú thêm và đảm bảo cung cấp nguồn Gen văn hóa tươi mới để từ đó mỗi cộng đồng dân tộc có thể tự phát triển bền vững. “Lưu truyền là bản năng tự nhiên của mọi sự sống. Lưu truyền vô thức đảm bảo cho sự tiến hóa. Lưu truyền hữu thức đảm bảo cho sự phát triển … Hình thức lưu truyền ấy mệnh danh là Bảo tồn” [3]. Hoạt động bảo tồn di sản văn hóa là hình thức lưu truyền hữu thức, trước hết để đảm bảo cho sự phát triển văn hóa của chính cộng đồng dân tộc ấy và rộng hơn nữa là đảm bảo cho sự phát triển văn hóa của nhân loại.
Khái niệm Đa dạng Văn hóa và Đa dạng Di sản của Văn kiện Nara đã mở rộng khung nhận diện di sản, từ đó rất nhiều thể loại công trình kiến trúc truyền thống hoặc sản phẩm của quá trình tiếp biến văn hóa của các dân tộc trên Thế giới đều có thể trở thành ứng viên Di sản Văn hóa của quốc gia mình hoặc Di sản Văn hóa Thế giới.

2. Giá trị cấu thành Di sản

Di sản nói chung bao gồm các nhóm giá trị sau [4]:

a) Giá trị Tình cảm (Emotional Values), trong đó bao gồm: Giá trị kỳ quan, bản sắc, tính liên tục của truyền thống, sự khâm phục và lòng tôn kính, biểu tượng và tinh thần;

b) Giá trị Văn hóa (Cultural Values), trong đó bao gồm: Giá trị tư liệu, lịch sử, khảo cổ học và niên đại, thẩm mỹ và kiến trúc, cảnh quan và sinh thái, khoa học và công nghệ;

c) Giá trị sử dụng (Future Usage Values), trong đó bao gồm: Giá trị chức năng, kinh tế và xã hội, giáo dục và chính trị.

Các nhóm giá trị trên đây được thẩm định, hoặc được nhận biết sau khi di sản đã hình thành, hoặc đã được công nhận, đây cũng là các tiêu chí đánh giá công nhận cấp độ và các loại hình Di sản Văn hóa.

Văn kiện Nara 1994 làm rõ nguồn gốc sản sinh các nhóm giá trị này thông qua khái niệm “Giá trị cấu thành di sản” (cái gì, như thế nào, khi nào và ở đâu để tạo nên những giá trị đó của di sản) được thể hiện rõ ở Mục 6 (Đa dạng di sản văn hóa tồn tại theo thời gian và không gian) và Mục 9 (hình thức và thiết kế, vật liệu và vật chất, phương thức sử dụng và chức năng, truyền thống và kỹ thuật, vị trí và khung cảnh, tinh thần và cảm giác, và các yếu tố bên trong và bên ngoài khác). Như vậy, trước khi di sản và các giá trị của nó được hình thành thì đã tồn tại mầm mống hình hài di sản tiềm ẩn bên trong truyền thống của cộng đồng dân tộc sản sinh ra nó. Đây là một sự đề xuất khái niệm luận táo bạo và hoàn toàn xác đáng xuất phát từ truyền thống và thực tại công tác bảo tồn, trùng tu di sản kiến trúc Nhật Bản, tầm bao quát của nó không chỉ dừng lại trong khuôn khổ địa giới hành chính đất nước Nhật Bản mà còn có thể vượt không gian, thời gian để lan tỏa đến nhiều quốc gia khác trên Thế giới, trong đó gần nhất và tương đồng về mọi mặt là Di sản

Kiến trúc Việt Nam.

Từ khái niệm này, không khó để liên tưởng đến khái niệm ADN di sản. Điều mà người Nhật muốn trình bày thông qua Văn kiện Nara về bảo tồn, tái thiết di sản kiến trúc giống như cách “nhân bản vô tính” chú Cừu Dolly trong sinh học để từ đó khai thông hành lang pháp lý quốc tế cho việc tái thiết những di sản kiến trúc quí giá đã bị mất trong quá khứ mà trường hợp điển hình là công cuộc tái thiết Hoàng cung Nara, Nhật Bản.

3.Tính chân xác của các nguồn thông tin cung cấp

Tính xác thực về nguồn tư liệu di tích đã được đề cập lần đầu tiên trong Điều 9 Hiến chương Venice 1964, nhưng chỉ dừng lại ở khuôn khổ tư liệu chứng minh nguồn gốc xác thực của di sản. “Tính chân xác” của các nguồn tư liệu cung cấp đề cập ở Mục 13 của Văn Kiện Nara 1994 bao gồm cả ý tưởng thiết kế, vật liệu xây dựng, công nghệ kỹ thuật, phương thức sử dụng, thời gian, không gian hình thành nên di sản và các giá trị của nó. Như vậy, nội hàm khái niệm này rất rộng (về lượng) và trở nên quan trọng (về chất), mở ra triển vọng to lớn cho công cuộc bảo tồn và tái thiết di sản kiến trúc của nhiều quốc gia khác trên thế giới nếu nhận thấy có sự tương đồng về hệ qui chiếu văn minh, văn hiến và văn hóa.

Từ đây, khái niệm Di sản (Heritage) và Di tích (Monument) được phân biệt rõ ràng hơn: Di sản Kiến trúc sẽ có thể là những kiến trúc vật được tạo nên bằng cách tiếp tục không lai tạp nguồn AND cũ của nó (hình 1); Di tích Kiến trúc là một thực thể kiến trúc vật bao gồm trong đó một tổ hợp vật kiến trúc nguyên gốc không thể tái tạo mà chỉ có thể bảo tồn nguyên trạng hình hài và giá trị vốn có của nó. Như vậy, di tích kiến trúc là bản mẫu duy nhất, còn di sản kiến trúc có thể là phiên bản “N” của bản mẫu đó.

Hình 1. Tỉ lệ kiến trúc Kiwari và kỹ thuật Kiku – nguồn ADN di sản kiến trúc Nhật Bản được bảo tồn
 

Về nội hàm ngữ nghĩa quốc tế, di sản là tài sản để lại (Heritage) và kế thừa (Inheritance) là sự tiếp nối di sản đó. Khái niệm “Di sản sống” (Livingling Heritage) cần phải được hiểu đúng và tương xứng nội hàm ngữ nghĩa trên đây. Trong bối cảnh luận bàn này, sự liên tục của truyền thống và tính nguyên vẹn của các giá trị cấu thành di sản luôn đóng vai trò quyết định trong việc thẩm định các mặt giá trị di sản.

Về phương diện xã hội, di sản là nguồn gen bền vững giúp củng cố và tái sinh bản sắc văn hóa; về phương diện kỹ thuật công nghệ, sự hiểu biết đầy đủ và thấu đáo về AND di sản sẽ giúp tái tạo được di sản; về phương diện bảo tồn, nguồn “gen” văn hóa và ADN di sản sẽ giúp cho công cuộc bảo tồn đạt tới đích giá trị xác thực hay tính chân xác (chất lượng bảo tồn); về phương diện kinh tế, thành quả bảo tồn sẽ thu hút được tình cảm và khôi phục lòng tôn kính của cộng đồng đối với lịch sử thông qua di sản, từ đó kinh tế du lịch sẽ phát triển.

Biểu hiện của Tính chân xác trong bảo tồn Di sản Kiến trúc Nhật Bản

  • Sự minh chứng xác thực bằng tư liệu về di sản:
    • Tư liệu lịch sử chính thống (chính sử) và các nguồn sử liệu tham khảo;
    • Nguyên lý và phương pháp thiết kế;
    • Sự hiểu biết thấu đáo về kỹ thuật và công nghệ truyền thống.
  • Sự xác thực về vật liệu xây dựng, hình thức kiến trúc, cấu trúc và khả năng duy trì.
  • Tính nguyên vẹn và liên tục của kỹ thuật truyền thống, khả năng ứng dụng của chúng vào công tác trùng tu, tái thiết di sản.
    Những định hướng cơ bản trong công tác bảo tồn Di sản Kiến trúc Nhật Bản
    Những kinh nghiệm và thành tựu bảo tồn ở Nara đã giúp người Nhật đưa ra được những định hướng mang tính chiến lược trong hoạt động bảo tồn, trùng tu và tái thiết di sản kiến trúc là:
  • Nghiên cứu toàn diện về di sản trước khi tiến hành can thiệp vào di sản, công tác trùng tu phải đạt được mục tiêu cao nhất là gìn giữ tới mức tối đa các yếu tố cấu thành gốc và vật liệu kiến trúc nguyên gốc ngay cả khi nó tồn tại ở vị trí khởi nguyên (từ thời điểm công trình được xây dựng), hoặc không khởi nguyên (sau những lần công trình được trùng tu mà vị trí các yếu tố cấu thành gốc đã bị xáo trộn);
  • Duy trì sự tồn tại vật lý của di sản đồng thời với việc bảo tồn các chứng cứ liên quan đến các thời kỳ lịch sử của di sản là nhiệm vụ trọng yếu của hoạt động bảo tồn, trùng tu di sản kiến trúc;
  • Sử dụng vật liệu chân xác (đồng chủng loại và tương đồng về tính chất lý, hóa) và kỹ thuật xây dựng truyền thống là tiêu chuẩn hàng đầu và tiên quyết để gìn giữ giá trị chân xác;
  • Vật liệu và kỹ thuật xây dựng truyền thống là nền tảng kỹ thuật cho công tác trùng tu, tái thiết di sản kiến trúc. Các giải pháp kỹ thuật và vật liệu thay thế mới chỉ được phép áp dụng một khi vật liệu và kỹ thuật xây dựng truyền thống không thể đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật bảo tồn nhằm duy trì sự tồn tại của công trình di sản kiến trúc;
  • Mọi giải pháp bảo tồn, trùng tu di sản văn hóa phải được cân nhắc kỹ lưỡng bằng sự hiểu biết thấu đáo về kỹ thuật công nghệ truyền thống và phải được soi rọi bằng kiến thức khoa học hiện đại.

Bảo tồn, Trùng tu và Tái thiết Di sản

Nội hàm khái niệm

Bàn về công tác bảo tồn, trùng tu và tái thiết di sản kiến trúc không thể không đề cập đến Hiến chương Bura 1979, cung cấp những hướng dẫn cụ thể cho công tác bảo tồn và quản lý các địa điểm di sản văn hóa dựa trên tinh thần Hiến chương Venice 1964. Hiến chương Bura được thông qua bởi Hội đồng ICOMOS Quốc gia Úc (the Australian National Committee of ICOMOS) tháng 8/1979, bản sửa đổi được thông qua tháng 2/1981, tháng 4/1988 và tháng 11/1999.

Những phạm trù khái niệm được đề cập xuyên suốt trong tham luận này bao gồm: Bảo tồn (Conservation), Trùng tu (Restoration), Tái thiết (Reconstruction) mà đối tượng hướng tới của chúng là: Di sản (Heritage), Di sản Văn hóa (Cultural Heritage) và Di sản Kiến trúc (Architectural Heritage).

Di sản là gì ?

Di sản là tất cả những tài sản hoặc truyền thống để lại từ quá khứ mà vẫn còn ý nghĩa và giá trị đối với hiện tại cũng như tương lai [5] .

Trong lúc đó, khái niệm Di tích (Monument) lại được định nghĩa hẹp hơn và cụ thể hơn: “Di tích có thể là một tảng đá, cột trụ, di chỉ khảo cổ, cấu trúc hoặc một công trình kiến trúc được dựng lên ghi nhớ về người chết, một sự kiện hoặc một hành động đã xảy ra. Cũng là một điểm đánh dấu vĩnh viễn, chẳng hạn như một ranh giới bằng đá định vị một góc hay một phạm vi di sản” [6].

Di sản Văn hóa là gì ?

Di sản Văn hóa những sản phẩm văn hóa vật chất (hữu hình) và sản phẩm văn hóa tinh thần (vô hình) đã được sản sinh thông qua lịch sử bằng phương cách sử dụng văn minh (hệ qui chiếu văn hóa) và sự đúc kết kinh nghiệm lịch sử có chọn lọc (văn hiến) bằng các hình thức lưu truyền hữu thức của mỗi cộng đồng dân tộc.

Di sản Kiến trúc là gì ?

Di sản kiến trúc là những đơn nguyên hoặc quần thể công trình kiến trúc được xây dựng bằng công nghệ và vật liệu truyền thống, là yếu tố hữu hình của Không gian và Thời gian tiêu biểu cho một giai đoạn lịch sử, vẫn còn ý nghĩa và giá trị đối với hiện tại cũng như tương lai.

Bảo tồn – Trùng tu – Tái thiết (di sản kiến trúc) nên được hiểu như thế nào? Nội hàm quan hệ giữa chúng ra sao? – Dưới đây, tôi xin trích dẫn đối sánh định nghĩa trong Từ điển Minh họa Bảo tồn Kiến trúc của Ernest Burden (Illustrated Architectural Preservation/IAP) và nội dung tương ứng được mô tả trong Hiến chương Bura:

Với những định nghĩa trên đây của các tài liệu trích dẫn, tôi xin đưa ra cách diễn giải nội hàm khái niệm như sau:

  • Bảo tồn là cách tích lũy di sản để làm phong phú quỹ di sản nhân loại;
  • Trùng tu là cách nhận biết di sản để chứng minh và làm rõ các mặt giá trị di sản;
  • Tái thiết là cách đọc hiểu di sản để trình bày phương cách hình thành di sản.

Như vậy, Bảo tồn là khái niệm “mẹ” của Trùng tu và Tái thiết.

Bảo tồn di sản kiến trúc không chỉ đơn thuần là giữ cho công trình kiến trúc còn đó mà còn phải gìn giữ tất cả những gì liên quan đến sự tồn tại của nó.
Nếu Di tích Kiến trúc (Architectural Monument) là tài sản vật chất hữu hình (Tangible Property), là cái duy nhất và không thể tái tạo thì Di sản Kiến trúc (Architectural Heritage) là một loại hình Tài sản văn hóa (Cultural Property) bao gồm cả yếu tố hữu hình (Tangible) và yếu tố vô hình (Intangible). Yếu tố hữu hình được hiểu là sự hiện hữu của nó bao gồm cả bản vẽ thiết kế; yếu tố vô hình bao gồm ý tưởng thiết kế và tất cả những kiến thức, sự hiểu biết về nó dựa trên tính xác thực của các nguồn tư liệu cung cấp và yếu tố “tự sinh” dựa trên nguồn ADN di sản được lưu truyền.

Bảo tồn là gốc của sự Sáng tạo, là mặt đối lập và tồn tại song hành với sự Phá hủy, tất cả đều là tập hợp con của sự Phát triển. Ở đây, tôi học cách tư duy của Hindu giáo với biểu tượng của ba vị Thần: Thần Shiva – Hủy diệt, thần Brahma – Sáng tạo, thần Vishnu – Bảo tồn. Trong bộ “Tam thần” này, thần Shiva là hiện thân của tất cả bao gồm: Sáng tạo – Sự khởi đầu mới; Bảo tồn – Bảo lưu tinh túy; Phá hủy – Loại bỏ tác hại. Như vậy Shiva cũng biểu trưng cho sự Phát triển.

Ở phương diện văn hóa – xã hội, nếu phát triển không dựa trên sự kế thừa truyền thống (đến từ bảo tồn) thì sự phát triển đó thiếu gốc và không bền vững; nếu phá hủy không có bảo tồn thì không có cái để kế thừa, “Bảo tồn” và “Phá hủy” là cặp phạm trù đối lập, từ đó sản sinh sự “Sáng tạo”; nếu “Bảo tồn” không vì mục đích “Sáng tạo”, mà sự “Phát triển” là động lực, thì hoạt động bảo tồn đó vô nghĩa.

Xét theo nghĩa này, Bảo tồn và Phát triển không hề đối nghịch, Bảo tồn chính là sự đảm bảo cho Phát triển bền vững. Đây là vấn đề tồn tại lâu nay trong luận bàn về “Bảo tồn”, “Phát triển” ở Việt Nam dẫn đến những quyết sách vội vã với lý do bất cập.

Như vậy, sự phá hủy có cần thiết hay không? Khái niệm Phá hủy nên được hiểu như thế nào? Tôi nghĩ là rất cần thiết và cần được đề cập trong này:
Thứ nhất, sự Phá hủy hiểu theo nghĩa thông thường là tàn phá (Destroy) vô thức hay hữu thức gây ra bởi chiến tranh hoặc thiên tai. Đây là vấn đề khách quan của Thế giới và của Địa cầu. Nhưng cũng chính sự tàn phá này đã thức tỉnh nhân loại cần có động thái lưu truyền ký ức thông qua việc bảo tồn những sản phẩm vật chất và tinh thần do mình tạo nên thông qua lịch sử để làm bản gốc tham khảo, âu đó cũng là khía cạnh tiến hóa của loài người;
Thứ hai, sự phá hủy hiểu theo nghĩa lịch sử là loại bỏ (Reject) những cái cũ không hợp thời, làm cản trở bước tiến xã hội. Đây cũng là vấn đề khách quan của duy vật biện chứng lịch sử mà sản phẩm của nó là các cuộc cách mạng, âu đó cũng là khía cạnh phát triển của xã hội loài người thông qua việc thay đổi các thể chế chính trị hoặc thay đổi cơ chế quản lý vĩ mô;

Thứ ba, sự phá hủy hiểu theo nghĩa chuyên môn bảo tồn là xóa bỏ (Remove) những lớp bồi đắp thông qua thời gian phủ lấp giá trị di sản bằng hoạt động trùng tu, tái thiết di sản;

Thứ tư, sự phá hủy hiểu theo nghĩa nhận thức là đả phá (Fighting) cách hiểu thiển cận về công tác bảo tồn, trùng tu và tái thiết di sản văn hóa. Sẽ vô cùng nguy hại cho tương lai di sản nếu những việc làm tưởng chừng như “sứ mạng cao cả” của chúng ta hôm nay chính là tác nhân trực tiếp làm cho di sản văn hóa dân tộc bị méo mó sai lệch so với bản gốc và suy giảm giá trị, như vậy chính những người trực tiếp làm công tác quản lý bảo tồn di sản văn hóa và những nhà thầu thi công trùng tu di tích kiến trúc là những người phải chịu trách nhiệm trước lịch sử văn hóa dân tộc, nhưng lại rất dễ được biện minh bởi sự bất cập của cơ chế.

Sự đúc rút kinh nghiệm bảo tồn di sản kiến trúc Nhật Bản và khả năng ứng dụng vào Việt Nam

Quần thể Di tích Huế (Complex of Hue Monuments) là di sản đầu tiên của Việt Nam được công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới vào tháng 12/1993, sự kiện này đã tạo sự phấn kích và niềm tự hào về văn hóa dân tộc trong cộng đồng người Việt Nam cả trong nước lẫn nước ngoài. Sau đó, hàng loạt các khu di sản khác cũng được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới (Tangible) như: Thánh địa Mỹ Sơn (12/1999); Phố cổ Hội An (12/1999); Hoàng Thành Thăng Long (7/2010) và Thành Nhà Hồ (6/2011). Theo đó, nguồn ngân sách nhà nước và vốn tài trợ quốc tế dành cho các dự án trùng tu di tích kiến trúc gia tăng đáng kể.

Hình 2. Nghiên cứu toàn diện về di sản của dự án tái thiết Touinteien (Đông Viện Đình Viên)
 

Dưới đây, tôi xin đề cập một vài hạng mục đối sánh quan trọng giữa công tác bảo tồn di sản kiến trúc Nhật Bản và Việt Nam được đúc rút từ thực tiễn hoạt động bảo tồn của hai quốc gia những thập niên gần đây để các nhà chuyên môn và quí độc giả cùng tham khảo.

1.Nghiên cứu toàn diện về di sản (hình 2)

  • Nghiên cứu tư liệu lịch sử (Historical study);
  • Nghiên cứu khảo cổ học (Archaeological Study);
  • Nghiên cứu phương pháp thiết kế và tỉ lệ kiến trúc (Architectural designing method and Architectural propotion study);
  • Nghiên cứu thực nghiệm kết cấu xây dựng (Exprimental construction study)
  • Nghiên cứu mỹ thuật (Arts study);
  • Nguyên cứu kỹ thuật và vật liệu xây dựng truyền thống (Traditioanl technique and Construction materials study);
  • Nghiên cứu hóa nghiệm bảo quản (Chemical preservation study);
  • Nghiên cứu sinh học và môi trường (Biological and Invironmental study).

Các dự án bảo tồn, trùng tu di sản ở Việt Nam chủ yếu thực hiện được ở các khâu nghiên cứu lịch sử, khảo cổ học, kiến trúc và một phần của các vấn đề kỹ thuật truyền thống. Những nghiên cứu liên quan khác nếu không được thực hiện một cách nghiêm túc để hiểu và lường trước được những nguy cơ tiềm ẩn đối với di sản sẽ làm giảm thiểu chất lượng trùng tu và khả năng duy trì sự tồn tại công trình di sản kiến trúc sau khi trùng tu.

2.Báo cáo nghiên cứu trước trùng tu

Sự thiếu vắng các dự án nghiên cứu cơ bản về công trình di sản kiến trúc trước khi lập dự án trùng tu là một thực tại ở Việt Nam. Thông thường ở Nhật Bản, các dự án nghiên cứu bảo tồn được phân biệt rõ ràng với các dự án trùng tu. Sản phẩm của dự án nghiên cứu bảo tồn là những báo cáo khoa học toàn diện về di sản, trong đó bao gồm hệ thống kiến thức khoa học về di sản và sự thẩm định di sản một cách khoa học và khách quan, có vai trò định hướng cho các dự án trùng tu, tái thiết di sản kiến trúc. Sản phẩm của các dự án trùng tu, tái thiết di sản là thực thể kiến trúc vật được phục hồi đúng với nguyên bản vào thời kỳ mà nó bộc lộ giá trị cao nhất. Ở Việt Nam, chưa có loại hình các dự án nghiên cứu bảo tồn này, hoặc nếu có chỉ là những cuộc khảo sát, khảo cứu tổng quát về di sản phục vụ cho phần Thuyết minh dự án, mang nặng tính chất quản lý hơn là nghiên cứu khoa học.

Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt tính chất của dự án bảo tồn, dự án trùng tu và dự án tái thiết di sản. Như đã đề cập ở mục 2.1 (Nội hàm khái niệm) trên đây, và theo Điều 14 của Hiến chương Bura, cách đặt tên các dự án cần được nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên sự định hướng của những báo cáo nghiên cứu trước trùng tu, vì chính tên gọi dự án sẽ thể hiện nội dung công việc thực hiện và mục tiêu mà dự án phải đạt được.

3. Bảo tồn cấu kiện nguyên gốc

Tôn trọng và bảo tồn đến mức tối đa các cấu kiện nguyên gốc là nhiệm vụ trọng yếu của công tác trùng tu hạ giải. Trong trương hợp này, nếu công tác hóa nghiệm bảo quản được thực hiện tốt thì tỉ lệ cấu kiện nguyên gốc và các thành phần gốc cấu thành thực thể di sản sẽ được bảo tồn cao hơn, đặc biệt đối với di sản kiến trúc gỗ. Việc thay thế ồ ạt và thiếu cân nhắc các cấu kiện nguyên gốc, trong một vài trường hợp, sẽ làm suy giảm nghiêm trọng giá trị di sản. Hóa nghiệm bảo quản là công cụ hữu ích góp phần đảm bảo chất lượng trùng tu, bảo tồn di sản kiến trúc (hình 3).

Hình 3. Bảo tồn cấu kiện nguyên gốc và các chứng cứ lịch sử trong quá trình trùng tu hạ giải
 

4. Nhà bao che phục vụ trùng tu

Nhà bao che, trong thuật ngữ của sử liệu triều Nguyễn gọi là “Cái tế”, tức là khái niệm này đã tồn tại trước đó trong hoạt động sửa chữa, cải tạo kiến trúc dưới triều Nguyễn. Nhà bao che (hình 4) có tác dụng tích cực trong suốt quá trình trùng tu hạ giải. Trong điều kiện làm việc có mái che, tránh được nắng nóng và mưa dầm, người thợ sẽ có đủ kiên nhẫn và sự cẩn thận trong các thao tác kỹ thuật. Mặt khác, nhà bao che sẽ giúp bảo quản tốt các cấu kiện kiến trúc đã được hạ giải hoặc cấu trúc xây dựng đã được phân rã, làm giảm thiểu quá trình phân hủy tự nhiên của vật liệu trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, làm giảm thiểu sự đông cứng tức thời của vôi vữa truyền thống trong quá trình tu bổ nền móng, xây tường và lợp ngói mà đó chính là nguyên nhân gây nứt, dẫn đến hiện tượng mao dẫn, tích tụ ẩm và gây dột trên toàn cục của hệ mái sau khi trùng tu.

Nhà bao che đạt chuẩn cho công tác trùng tu cần phải bao che được 5 mặt tiếp xúc với không gian bên ngoài (mái lợp và 4 mặt còn lại), và phải trụ vững được trong suốt quá trình trùng tu cho đến lúc công trình hoàn thành và đưa vào sử dụng. Có thể vì lý do tài chính hoặc sự nhận thức chưa đầy đủ về mức độ quan trọng, nên nhà bao che trong các dự án trùng tu ở Việt Nam chưa được quan tâm đúng mức, hoặc chỉ được thực hiện chiếu lệ.

5.Báo cáo khoa học sau khi trùng tu

Báo cáo khoa học sau khi trùng tu không chỉ đơn thuần là hồ sơ hoàn công phục vụ công tác thanh quyết toán khối lượng. Dự án trùng tu bảo tồn di sản kiến trúc khác hoàn toàn với dự án đầu tư xây dựng kiến trúc, tuy nhiên phần lớn qui trình và các điều kiện để thực hiện thanh quyết toán khối lượng lại được áp dụng Luật Xây dựng, từ đó dẫn đến cách làm “vôi vữa hóa” công tác trùng tu bảo tồn di sản văn hóa của chúng ta.

Báo cáo khoa học sau trùng tu đem lại lợi ích lâu dài cho công cuộc bảo tồn di sản văn hóa, bởi vì: Thứ nhất, nó là sự đúc kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về bảo tồn; Thứ hai, nó là một dạng hồ sơ khoa học di sản quí giá có giá trị tham khảo lâu dài; Thứ ba, nó là cơ sở pháp lý cho việc thanh quyết toán, giải ngân kinh phí đầu tư trùng tu bảo tồn di sản.

6. Hóa nghiệm bảo quản

Hóa nghiệm bảo quản là công việc thường trực luôn được thực hiện trước, trong và sau khi trùng tu, giúp có thể duy trì khả năng tồn tại của công trình di tích kiến trúc, giúp tái sử dụng một lượng lớn các cấu kiện nguyên gốc và thành phần gốc cấu thành thực thể di sản, làm chậm lại quá trình tự phân hủy của vật liệu và gìn giữ được “màu thời gian” của công trình di tích kiến trúc (hình 5, 6). Rất tiếc, công tác nghiên cứu hóa nghiệm bảo quản lại chưa được coi trọng và áp dụng triệt để trong các dự án trùng tu di sản kiến trúc ở Việt Nam.

7. Trùng tu hạ giải

Đặc điểm di sản kiến trúc gỗ của các nước đồng văn châu Á, trong đó có Việt Nam, là sự tổ hợp của các cấu kiện bằng gỗ (Timber) theo phương pháp lắp ghép mộng để hình thành hệ khung gỗ chịu lực. Chính đặc điểm cấu tạo này cho phép thực hiện giải pháp trùng tu hạ giải (bán phần hoặc toàn phần) đối với các công trình di tích kiến trúc gỗ.

Lợi ích của giải pháp này là cho phép can thiệp sâu vào cấu trúc chịu lực và giúp giải một cách quyết triệt để các vấn đề kỹ thuật của hệ khung gỗ, giúp hiểu được nhiều thông tin liên quan đến lịch sử tu bổ công trình. Tuy nhiên, mặt trái của nó là rất dễ dàng đi đến quyết định thay thế một lượng lớn cấu kiện nguyên gốc mà chỉ dựa trên cảm tính, và nguy cơ hủy hoại chứng cứ liên quan đến lai lịch và lịch sử tu bổ của công trình (hình 7, 8). Trùng tu hạ giải là cần thiết đối với di sản kiến trúc bằng gỗ, tuy nhiên cần phải hết sức thận trọng, từng cấu kiện cần phải đánh dấu bằng hệ thống ký hiệu kỹ thuật (truyền thống hoặc hiện đại) để đảm bảo cho việc tái lắp dựng không bị nhầm lẫn, và cần phải rất thận trọng trong việc thay thế cấu kiện nguyên gốc, điều tiên quyết là công tác hóa nghiệm bảo quản phải được tiến hành đồng thời nếu thực hiện giải pháp trùng tu hạ giải.

Giới thiệu các dự án trùng tu và tái thiết di sản điển hình

Trong phần dưới đây tôi xin giới thiệu hình ảnh về một số dự án trùng tu, tái thiết di sản điểm hình của Nhật Bản và Việt Nam nhằm cung cấp cho quí độc giả cái nhìn đối sánh giữa công cuộc bảo tồn di sản văn hóa của hai quốc gia có nền văn hóa gần gũi và sự tương đồng về các loại hình di sản kiến trúc.

Dự án trùng tu

1. Dự án trùng tu Chùa Toshodaiji (Nara, Nhật Bản)

Di tích kiến trúc Chùa Toshodaiji (唐招提寺/Đường Đề Chiêu Tự, (hình 9) ở Nara là một trong những di tích kiến trúc gỗ có niên đại sớm được xây dựng theo phong cách kiến trúc cổ đại còn lại của Nhật Bản, được xây dựng năm 759, là một trong những công trình được UNESCO xếp hạng Di tích Lịch sử Thế giới thời Nara cổ đại (Historic Monument of Ancient Nara), trùng tu lần gần đây nhất vào năm 2004 bằng giải pháp trùng tu hạ giải toàn phần (từ nền móng, hệ khung cho đến hệ mái).

2. Dự án trùng tu công trình Ngọ Môn (Huế, Việt Nam)

Di tích kiến trúc Ngọ Môn (午門) được xây dựng năm Minh Mạng thứ 13 (1833), thuộc Quần thể Di tích Kiến trúc Huế – Di sản Văn hóa Thế giới đầu tiên của Việt Nam. Ngọ Môn là cổng chính nằm trên trục Dũng đạo, hướng Tí – Ngọ của Hoàng Thành Huế, được trùng tu lần gần đây nhất vào năm 2014 – 2018 bằng giải pháp trùng tu hạ gải bán phần (chỉ hạ giải toàn bộ hệ mái và hệ khung gỗ, phần đế công trình được tu bổ theo nguyên trạng, (hình 10).

Hình 10. Ngọ Môn trong quá trình trùng tu (năm 2015)
và sau khi trùng tu (năm 2018)
 

Dự án tái thiết

1. Dự án tái thiết công trình Suzakumon (Nara, Nhật Bản)

Công trình Suzakumon (朱雀門/Chu Tước Môn) là cổng chính của Hoàng Cung Nara được xây dựng ở trung tâm phía Nam của Kinh đô Nara xưa. Suzaku có nghĩa là chim Chu Tước đỏ ở hướng Nam, một trong năm yếu tố ngũ hành của kinh đô Phong Thủy theo học thuyết Trung Hoa cổ đại. Công trình này đã bị mất, nền móng của nó bị vùi sâu dưới lòng đất từ lâu trong quá khứ cùng với số phận của Hoàng Cung Nara.

Năm 1993, sau 75 năm ròng rã nghiên cứu tính từ khi dấu tích Hoàng Cung Nara được phát hiện vào năm 1918, chính phủ Nhật Bản đã quyết định cho tái thiết công trình này. Đến tháng 12/1998 thì dự án tái thiết Suzakumon hoàn thành đúng dịp khu di tích Khảo cổ học Nara được công nhận là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, đây là thành quả to lớn đầu tiên của công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Nhật Bản đã được Thế giới công nhận (hình 11).

Hình 11. Phế tích nền móng Suzakumon và công trình Suzakumon sau khi được tái thiết
 

2. Dự án tái thiết công trình Chiêu Kính Điện (Huế, Việt Nam)

Di tích kiến trúc Chiêu Kính Điện (昭敬殿) tọa lạc trong khu vực Thái Miếu – Hoàng Thành Huế, được xây dựng vào năm Gia Long thứ 3 (1804), dùng làm nơi thiết soạn lễ vật trong ngày giỗ kỵ các Tiên Đế và Tiên Hậu của Hoàng tộc Nguyễn. Toàn bộ hệ mái và hệ khung gỗ của công trình đã bị thiêu hủy vào năm 1947, tính đến trước thời điển tái thiết, công trình chỉ còn lại phế tích nền móng (hình 12).

Dựa trên kết quả nghiên cứu công trình đồng dạng và đồng đại là Long Đức Điện (công trình hiện còn) kết hợp với phương pháp nghiên cứu đa ngành để xây dựng lại bản vẽ thiết kế nguyên bản của công trình Chiêu Kính Điện. Đây là sự đúc kết bước đầu phương pháp luận và qui trình nghiên cứu tái thiết di sản kiến trúc đã bị mất (thuộc chương dự án tác nghiên cứu bảo tồn giữa Đại học Monozukuri – Nhật bản và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế). Dự án bắt đầu từ tháng 9/2010 và hoàn thành vào tháng 8/2014, hạng mục trùng tu là nền móng công trình, hạng mục tái thiết là hệ khung gỗ và hệ mái lợp.
3. Dự án nghiên cứu tái thiết công trình Cần Chánh Điện (Huế, Việt Nam)
Di tích kiến trúc Cần Chánh Điện (勤政殿) tọa lạc ở vị trí trung tâm của Tử Cấm Thành, thuộc Hoàng thành Huế, được xây dựng năm Gia Long thứ 3 (1804), là nơi làm việc của các Hoàng đế và Nội các triều Nguyễn (1802-1945). Toàn bộ hệ khung gỗ và hệ mái đã bị thiêu hủy vào năm 1947, chỉ còn lại phế tích nền móng tồn tại từ khi nó được xây dựng cho đến ngày nay (hình 13, 14).

Chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Viện Nghiên cứu Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, Đại học Waseda – Nhật Bản và Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế (1994 – 2010) đã thực hiện một chuỗi các nghiên cứu cơ bản về Quần thể Di tích Huế nhằm xác định phương pháp thiết kế và hệ thống tỉ lệ kiến trúc Cung Điện Huế, tổng hợp kết quả nghiên cứu để phục hồi lại bản vẽ thiết kế kiến trúc [10]. Các hạng mục dự kiến đối với dự án tái thiết Cần

Chánh Điện cũng sẽ tương tự như ví dụ tiền lệ là công trình Chiêu Kính Điện nêu trên, hạng mục trùng tu sẽ là nền móng công trình, hạng mục tái thiết sẽ là hệ khung gỗ, hệ mái lợp và toàn bộ phần trang trí nội ngoại thất. Công trình Cần Chánh Điện được tái thiết sẽ là thành quả to lớn của công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế nói riêng và Việt Nam nói chung.

Kiến trúc Pháp còn lại tại Sài Gòn

Ngoài nhà thờ Đức Bà, bưu điêu điện thành phố, Sài Gòn còn nhiều bảo tàng mang đậm kiến trúc Pháp được xây dựng từ thế kỷ trước.

Nhà thờ Đức Bà

Nhà thờ Đức Bà có tên đầy đủ là Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội. Ngày 7/10/1877, Giám mục Isidore Colombert đã đặt những viên đá đầu tiên để khởi công xây dựng nhà thờ trước mặt nhiều nhân vật cấp cao thời đó. Nhà thờ được hoàn thành 3 năm sau.

Với bề dày lịch sử và nét độc đáo trong kiến trúc, nhà thờ Đức Bà đã trở thành biểu tượng du lịch Sài Gòn và cả Việt Nam, là điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Hiện tại, nhà thờ trong quá trình trùng tu kéo dài 2 năm.

Khách sạn Continental

Khách sạn được ông Pierre Cazeau, một nhà sản xuất vật liệu xây dựng người Pháp khởi xây vào năm 1878 và hoàn thành 2 năm sau đó. Trước năm 1975, khách sạn trải qua thêm 2 đời chủ mới lần lượt là Công tước De Montpensier (năm 1911) và “tay anh chị” đảo Corse – Mathieu Francini (năm 1930). Đến những thập niên 1960 – 1970, chính phủ Việt Nam lâm thời bắt các cơ sở thương mại phải dùng bảng hiệu tiếng Việt nên khách sạn còn có tên là “Đại Lục Lữ Quán”.

“Đại Lục Lữ Quán” từng tiếp đón nhiều nhân vật nổi tiếng như đại văn hào Pháp André Malraux, văn hào Anh Graham Greene – tác giả quyển Người Mỹ trầm lặng, nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tahore – Giải Nobel văn chương 1913. Bên cạnh đó, khách sạn cũng là nơi lui tới thường xuyên của nhiều ký giả, nhà báo, chánh khách và thương gia ngoại quốc hoạt động ở Sài Gòn trong thời chiến.

Ngày nay, khách sạn là một trong những tòa nhà lâu đời bậc nhất của Sài Gòn. Nhưng nét kiến trúc xưa với mái ngói đỏ, bức tường gạch, trần nhà cao và phòng khách rộng rãi vẫn được giữ nguyên.

Bưu điện Thành phố

Tọa lạc tại Công trường Công xã Paris (quận 1), Bưu điện trung tâm Sài Gòn được người Pháp xây dựng trong khoảng 1886 – 1891. Kiến trúc của Bưu điện mang phong cách châu Âu kết hợp với nét Á Đông theo bản vẽ của kiến trúc sư Villedieu cùng với người trợ tá Foulhoux. Bảo tàng nằm gần Nhà thờ Đức Bà, Dinh Độc Lập và một trung tâm mua sắm tạo nên một khu vực tham quan hấp dẫn giữa trung tâm Sài Gòn ngày nay.

Nhà hát Thành phố

Sau khi chiếm được Nam Kỳ vào năm 1863, chính quyền Pháp đã mời một đoàn nghệ sĩ sang biểu diễn tại Sài Gòn. Lúc đó, đoàn hát phải biểu diễn tạm tại một căn nhà gỗ của dinh Thủy sư đề đốc tại Công trường Đồng Hồ, cũng là góc đường Nguyễn Du – Đồng Khởi hiện nay. Sau đó ít lâu, một nhà hát tạm được xây lên tại vị trí khách sạn Carevelle bây giờ. Đến năm 1898, Nhà hát TP HCM hay gọi tắt là Nhà hát Thành phố hoặc Nhà hát Lớn được khởi công ngay cạnh nhà hát tạm trước đó và khánh thành vào ngày 1/1/1900.

Đây được coi là công trình tiêu biểu và tốn kém nhất ở Sài Gòn thời Pháp thuộc, do kiến trúc sư Ferret thiết kế.

Hiện nay, Nhà hát Lớn là nơi tổ chức biểu diễn sân khấu chuyên nghiệp như opera, múa ba lê, ca nhạc, kịch nói, cải lương… cho tất cả các đoàn nghệ thuật trong và ngoài nước.

Bảo tàng TP HCM

Tòa nhà do kiến trúc sư Pháp – Foulhoux thiết kế, khởi công xây dựng từ năm 1885 và hoàn thành vào 1890. Chủ trương ban đầu của tòa nhà là Bảo tàng Thương mại, trưng bày những sản vật trong nước nhưng khi xây xong, tòa nhà trở thành tư dinh của Thống đốc Nam kỳ. Ngày 12/9/1978, UBND Thành phố quyết định sử dụng toà nhà này làm Bảo tàng Cách mạng TP HCM, đến ngày 13/12/1999 đổi tên thành bảo tàng TP HCM như hiện nay.

Tòa nhà có phong cách kiến trúc gothique với phần mái mang dáng dấp kiến trúc Á Đông. Từng chi tiết nhỏ của bảo tàng đều tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao. Ngày nay, ngoài tham quan và tìm hiểu kiến thức lịch sử, nhiều bạn trẻ còn tìm đến bảo tàng để chụp những bộ ảnh cưới, hoặc ghi lại khoảnh khắc đẹp.

 

Bến Nhà Rồng

Bến Nhà Rồng hay Bảo tàng Hồ Chí Minh được xây dựng từ năm 1862 và hoàn tất trong hai năm với “nhiệm vụ” ban đầu là một thương cảng lớn của Sài Gòn. Cũng tại nơi đây, một sự kiện đặc biệt trong lịch sử Việt Nam đã diễn ra. Ngày 5/6/1911, người thanh niên mang tên Nguyễn Tất Thành đã theo con tàu Amiral Latouche Tréville tìm đường sang châu Âu, tìm đường cứu nước. Do đó, từ năm 1975 tòa thương cảng này được Chính phủ trùng tu lại và trở thành khu lưu niệm Hồ Chí Minh.

Hầu như toàn bộ kiến trúc xưa của tòa trụ sở thương cảng Nhà Rồng vẫn còn nguyên vẹn cho đến hiện tại, trở thành điểm tham quan nổi tiếng.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Hồ Chí Minh

Bảo tàng được xây theo lối kiến trúc “Đông Dương cách tân”, do kiến trúc sư người Pháp Delaval thiết kế. Lúc khởi xây vào năm 1926, công trình dự kiến làm Viện Triển lãm Lúa gạo (Musés du Riz), sau là Viện Triển lãm Kinh tế (Musés économique), nhưng cuối cùng lại quyết định làm Bảo tàng Blanchard de la Brosse vào tháng 11/1927. Tuy vậy, bảo tàng vẫn chưa mở ra cho dân chúng tham quan. Đến ngày 1/1/1929, chính quyền Nam Kỳ mới khánh thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse và đón những lượt khách đầu tiên.

Trong quá khứ, bảo tàng đã có rất nhiều lần đổi tên nhưng chức năng vẫn không thay đổi: Gia Định Bảo tàng viện năm 1945, Viện bảo tàng Quốc gia Việt Nam năm 1956, Bảo tàng Lịch sử TP HCM năm 1979, và đổi thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Hồ Chí Minh vào năm 1987 cho đến nay.

Với lịch sử hơn 100 năm, đây là nơi lưu giữ, bảo quản và trưng bày cổ vật; là nơi học tập, nghiên cứu các di sản văn hóa. Tòa nhà còn là một minh chứng điển hình cho vẻ đẹp của kiến trúc mang phong cách Đông Dương tại Sài Gòn: sự kết hợp hài hòa giữa bản sắc văn hóa của Việt Nam và phong cách Tân cổ điển của Pháp.

Chợ Bến Thành

Từng được xây cất ở nhiều vị trí khác nhau trong thành phố, khu vực chợ Bến Thành hiện tại được nhà thầu Pháp Brossard et Maupin khởi công xây dựng từ năm 1912 và đến cuối tháng 3/1914 thì hoàn tất. Theo ghi chép lại, lễ khánh thành chợ thời đó được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30/3, với pháo hoa, xe bông và hơn 100.000 người tham dự. Tuy cái tên chợ Bến Thành có từ thời kỳ đầu, nhưng trước 1975, người dân vẫn thường hay gọi là Chợ Mới hay chợ Sài Gòn.

Hoạt động từ năm 1914 đến nay, ngôi chợ là nơi mua sắm sầm uất, là điểm giao hòa giữa Sài Gòn xưa và nay, trở thành hình ảnh gắn bó với ký ức của nhiều người Sài Gòn. Ngày nay, chợ là điểm tham quan không thể bỏ qua đối với du khách lần đầu ghé Sài Gòn, đặc biệt là du khách ngoại quốc.

Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM

Trong quá khứ, bảo tàng là dinh thự của nhà tư sản người Hoa – Hứa Bổn Hòa. Tòa nhà được xây dựng theo lối kiến trúc Á Đông (Trung Quốc) và châu Âu (Pháp) dưới bàn tay tài hoa của thiết kế gia Rivera. Sau bản vẽ thiết kế đầu tiên năm 1929, công trình xây xong vào năm 1934.

Năm 1987, tòa nhà được lập thành Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, nhưng vì thiếu hiện vật nên đến năm 1992 mới đi vào hoạt động. Qua gần một thế kỷ, công trình vẫn còn giữ nguyên những nét đặc trưng của lối kiến trúc xưa, còn được biết đến là tòa nhà có nhiều cửa sổ nhất ở Sài Gòn với 99 ô cửa.

Trụ sở UBND TP HCM

Được xây dựng từ năm 1898 đến 1909 do kiến trúc sư Femand Gardès thiết kế dựa theo những lầu chuông ở miền bắc nước Pháp, Trụ sở UBND TP HCM là một trong những công trình kiến trúc cổ kính nổi tiếng ở Sài Gòn hiện nay.

Thời Pháp thuộc, tòa nhà này có tên tiếng Pháp là Hôtel de ville hay Dinh xã Tây trong tiếng Việt. Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, tòa nhà được gọi là Tòa đô chánh Sài Gòn, là địa điểm làm việc của các quan chức cấp cao và diễn ra các cuộc họp của chính quyền nội đô.

Từ sau 30/4/1975 đến nay, tòa nhà trở thành nơi làm việc của UBND TP HCM. Nằm ở trung tâm Sài Gòn và ngay đầu phố đi bộ Nguyễn Huệ, tòa nhà cũng trở thành một trong những biểu tượng mang nét riêng của thành phố trong mắt du khách.

Những vị trí đặt hòn non bộ đẹp

Non bộ được hiểu một mô hình thu nhỏ có đồi núi, sông nước. Non bộ chính là giả sơn một trong những đặc trưng nổi bật của phong cách vườn Trung Quốc là thú vui tao nhã của tầng lớp thượng lưu ngày xưa, ngày nay thì chơi non bộ trở nên phổ biến hơn và trở thành xu hướng được yêu thích.  Hình ảnh non bộ là hình ảnh phổ biến trong trang trí khuôn viên của những biệt thự cổ điển đồ sộ. Câu hỏi mà nhiều người quan tâm đó chính là đặt non bộ ở vị trí nào trong nhà thì đẹp đem lại tài lộc, sức khỏe và may mắn cho gia chủ. Ngày hôm nay thietkebietthu sẽ trả lời câu hỏi này giúp bạn, một vị trí đặt non bộ đẹp và vị trí mà có nơi đạt phù hợp với diện tích đất và hướng phù hợp với tuổi mệnh của gia chủ, cụ thể như thế nào mời bạn đọc theo dõi bài viết để nắm được rõ hơn các chi tiết.

f:id:thietkebietthu:20191010181651j:plain

hon non bo

Non bộ có thể đặt được ở 3 khu vực đó là trước nhà, trong nhà và sau nhà. Tuy nhiên mỗi một không gian đặt thì cần phải nắm được những lưu ý để đặt phù hợp với phong thủy.

- Non bộ đặt trước nhà:

 

f:id:thietkebietthu:20191010181723j:plain

Hòn non bộ mini

 

  • Không đặt non bộ quá to và cao trước nhà gây bí bách cản tầm nhìn, cũng không đặt quá nhỏ gây mất cân xứng, đặt non bộ trước nhà phải lưu ý về tỷ lệ sao cho hài hòa giữa 3 yếu tố nhà-sân-non bộ.
  • Vị trí đẹp nhất khi đặt non bộ trước nhà đó là đặt ở góc sân vườn và có hướng quay vào nhà, tránh đặt non bộ lớn đối diện cửa chính. 
  • Non bộ đẹp có nghĩa là non bộ có sự hài hòa núi và nước, cây cối để tạo nên sự sinh động và chân thật nhất bởi non bộ chính là sự tái hiện của tự nhiên.
  • Non bộ có thác nước đặt trước nhà thì phải bố trí để dòng nước chảy nào nhà, tránh chảy theo hướng ra ngoài bởi trong ngũ hành thủy tượng trưng cho may mắn tài lộc.

- Non bộ đặt trong nhà:

 

f:id:thietkebietthu:20191010181804j:plain

Hòn non bộ ngoài sân

 

  • Non bộ đặt trong nhà thường chủ yếu đặt ở phòng khách hoặc những không gian ban công thoáng rộng.
  • Non bộ đặt trong nhà thường là non bộ kích thước nhỏ, non bộ mini để bàn, hoặc thường đặt ở vị trí gầm cầu thang trong nhà.
  • Đối với non bộ trong nhà khi lựa chọn hình dáng thì nên tránh những non bộ có thế núi lởm chởm và nhọn hoắt.
  • Không  đặt non bộ tại tầng trên cùng của tòa nhà và đặt biệt là nên kỵ những non bộ có kích thước lớn vì nó không tốt trong yếu tố phong thủy tạo thế núi đè gia chủ không thể phát triển, công danh sự nghiệp không thăng tiến được.
  • Non bộ trong nhà vẫn nên có yếu tố nước, khi có nước thì nên tạo thác và tạo dòng chảy tránh để dòng nước đứng yên không có chuyển động, đối với non bộ có thác nước trong nhà tạo dòng chạy nên sử dụng các bơm chuyên dụng. 

- Non bộ đặt sau nhà:

 

f:id:thietkebietthu:20191010181835j:plain

Đặt hòn non bộ sau nhà

 

  • Với những công trình biệt thự có diện tích rộng thì thường đặt non bộ sau nhà tạo nên thế vững chắc tựa sơn, về phong thủy thế này có ý nghĩa và bình yên an toàn cho gia chủ.
  • Biệt thự rộng thì nên đặt phía trước là hồ hoặc thác có hướng chảy vào phía nhà và được kết nối bởi cây cối với non bộ phía sân sau để tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh và có tính liên tục.
  • Non bộ đặt sau nhà không nên đặt với khoảng cách quá gần.

Các lưu ý đặt ở các khu vực trong nhà cần phải được chú ý cả về yếu tố hướng, hướng đặt non bộ vô cùng quan trọng bởi nó có ý nghĩa là đem lại sự may mắn vào nhà, cản các khí xấu không tốt với mệnh của gia chủ.

- Hướng đặt và cách đặt non bộ hợp với người mệnh Thủy

 

f:id:thietkebietthu:20191010181903j:plain

Hòn non bộ với người mệnh thủy

 

  • Các hướng tốt có thể đặt non bộ : Tây Nam, Tây, Tây Bắc, Đông Bắc
  • Lựa chọn vật liệu thì nên chọn các loại đá có màu trắng hoặc vàng của kim loại vì kim sinh thủy, ví dụ có thể chọn loại đá Tuyết sơn
  • Hình dáng bể hoặc hồ nên là hình chữ nhật hoặc hình tròn có ý nghĩa là cuộc sống viên mãn hạnh phúc
  • Cây cối trồng quanh khu vực hồ và giả sơn trồng ít cây bởi thủy sinh mộc sẽ hút khí tốt của thủy nên  lựa chọn một số loại cây như lộc nhung, lan ý, thanh tâm, cọ nhật,...để hút tài lộc.
  • Non bộ hợp với mệnh thủy thì nên là 1 hoặc 5 núi và có kết hợp thác nước hoặc hồ

- Hướng đặt và cách đặt non bộ hợp với người mệnh Hỏa

 

f:id:thietkebietthu:20191010181945j:plain

hòn non bộ với người mệnh hỏa

 

  • Các hướng tốt có thể đặt non bộ : Nam, Tây Nam, Đông Bắc
  • Nên trồng nhiều cây xanh quanh khu vực non bộ bởi mộc sinh hỏa rất tốt
  • Non bộ nên là 3 núi là đẹp nhất 
  • Cá trong hồ của những người mệnh hỏa nên chọn các có màu đỏ hoặc vàng, da cam

- Hướng đặt và cách đặt non bộ hợp với người mệnh Kim

 

f:id:thietkebietthu:20191010182056j:plain

hòn non bộ với người mệnh kim
  • Các hướng tốt có thể đặt non bộ : Tây và Tây Bắc
  • Non bộ nên là 5 núi là đẹp nhất cho người mệnh Kim
  • Màu sắc cây và đá lựa chọn làm non bộ hợp với người mệnh kim nên chọn những màu sắc thuộc hành thổ vì thổ sinh kim, các màu như vàng, xám, trắng bạc, nâu, nâu đất,..

- Hướng đặt và cách đặt non bộ hợp với người mệnh Mộc

 

f:id:thietkebietthu:20191010182459j:plain

hòn non bộ cho người mệnh mộc
  • Các hướng tốt có thể đặt non bộ: Đông và Đông Nam
  • Lựa chọn cây cối và màu sắc đồ vật trang trí non bộ cho người mệnh mộc nên chọn những màu xanh, đen, xanh nước biển, vàng
  • Non bộ có thể đặt non bộ 3 núi là đẹp nhất
  • Nên lựa chọn một số loài cây tốt cho mệnh mộc như :tùng trúc, hoa lan, cây sâm cảnh, cây kim tiền, vạn thiên thanh, các loại cọ dừa,…

- Hướng đặt và cách đặt non bộ hợp với người mệnh Thổ

  • Các hướng tốt có thể đặt non bộ: Đông Bắc và Tây Nam
  • Non bộ có thể đặt non bộ 3 núi, 5 núi hoặc 9 núi
  • Màu sắc đá hoặc màu sắc đồ vật trang trí non bộ của người mệnh thổ thì nên chọn các màu đỏ, hồng vàng, hoặc nâu; các màu có màu sắc thuộc mệnh hỏa, hỏa sinh thổ nên rất tốt cho gia chủ
  • Hạn chế trồng cây tại non bộ và hồ của người mệnh thổ, mộc hút sinh khí của thổ.

Trên đây là những thông tin về tổng hợp non bộ vị trí, hướng đặt; chúc các gia chủ có thêm những thông tin hữu ích và lựa chọn được non bộ thích hợp mang lại may mắn, suôn sẻ cho gia đình, đồng thời cũng tô thêm vẻ đẹp cho không gian sống của nhà hay biệt thự thêm phần sinh động.

 

https://drive.google.com/drive/u/1/folders/1j341ulYS89ca7DOt2ulQm-IzOZMLIS3J
https://docs.google.com/spreadsheets/d/1-IcjhIel06ZE5EPIc-lFAaddsX3XzdY-UcI4PQ5rvA0/edit#gid=0
https://docs.google.com/document/d/11CiDeqPBrtEXTLS7sRz6yUdMgqkMBWPFbTo69doRwAw/edit
https://docs.google.com/forms/d/1criWCp2uPoV2X4fzwohvyFr99_22AoVRo0KOEwVDTy8/viewform?edit_requested=true
https://docs.google.com/drawings/d/1E-G9GFTxrqYrKePtxAq0ajL2k_L3W_H8lGUTskhPFq8/
https://www.google.com/maps/d/viewer?mid=1dbLWtU91C8QMbEBqw3glHd49ac-NP9bq&hl=vi&ll=10.675161465810158%2C106.68403692321829&z=11
https://sites.google.com/view/designvilla
https://docs.google.com/presentation/d/19w2AhMbwxPCFX4BEy39cNH7RED-kisw30z9kgxziyYU/edit#slide=id.g64a27463ed_0_42